Tọa đàm: Đồng bàn với Thánh Đaminh trong ơn gọi Tu Huynh

01:34 |

 

Read more…

Lời kêu gọi của Đức Tổng giám mục Carballo nhân Ngày Đời sống Thánh hiến

05:57 |

Đức Tổng giám mục José Carballo, Tổng thư ký Bộ các dòng tu, nhắc nhở các tu sĩ nam nữ cần liên tục phân định về căn tính và sứ mạng của mình dưới ánh sáng Tin Mừng, đoàn sủng của dòng và các dấu chỉ thời đại, dưới sự hướng dẫn của Huấn quyền Hội thánh.
Đức Tổng giám mục Carballo, người Tây Ban Nha, năm nay 67 tuổi (1953), nguyên là Bề trên Tổng quyền dòng Phanxicô, trước khi được Đức Thánh cha Phanxicô bổ nhiệm làm Tổng giám mục Tổng thư ký Bộ các dòng Tu cách đây 7 năm (06/04/2013).
Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong cuộc phỏng vấn dành cho báo “Quan sát viên Roma” của Tòa Thánh, số ra ngày 28/01/2020 vừa qua, nhân dịp chuẩn bị cử hành Ngày Đời sống Thánh hiến lần thứ 24, với thánh lễ lúc 5 giờ chiều ngày 02/02 sắp tới, do Đức Thánh cha Phanxicô cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô.

Ngày Đời sống Thánh hiến

Đức Tổng giám mục Carballo nhắc lại Ngày Đời sống Thánh hiến có mục đích giúp các tín hữu trong toàn thể Giáo hội nhận biết và quý chuộng hơn đời sống thánh hiến, đồng thời khuyến khích những người thánh hiến tiếp tục suy tư và phân định về đơn gọi và căn tính của mình trong Giáo hội.
Đức Tổng giám mục dùng hình ảnh Đức Thánh cha Phanxicô thường nói, đó là cuộc sống của tu sĩ giống như nước. “Nếu nước tù, không chảy đi, thì sẽ hôi thối. Nếu đời sống thánh hiến không muốn chỉ được chiêm ngưỡng như một vật ở bảo tàng viện, nhưng xuất hiện trước mặt dân như một hình thức cuộc sống đẹp đẽ và cũng có thể đối với những người khác, thì phải liên tục tự hỏi xem đâu là điều Thiên Chúa và Dân Chúa muốn các tu sĩ trong lúc này và nơi này. Sự phân định để trả lời cho câu hỏi ấy và đặt mình theo chiều hướng được Chúa Thánh Linh chỉ dẫn, đó thực là một điều thiết yếu”.

Sứ mạng ngôn sứ của đời tu

Trong cuộc phỏng vấn, Đức Tổng giám mục Tổng thư ký Bộ các dòng tu cũng nhắc nhở rằng Đức Thánh cha liên tục nhấn mạnh về đặc tính ngôn sứ, như một yếu tố không thể thiếu trong đời sống thánh hiến... Cụ thể là “Đời sống thánh hiến được kêu gọi giữ cho ngọn đèn sứ vụ ngôn sứ được luôn cháy sáng, trở thành ngọn đèn pha cho người bị lạc hướng giữa biển khơi, là ngọn đèn cháy sáng soi cho người bước đi trong tối tăm, là người lính canh cho người không thấy một lối thoát trong cuộc sống. Đồng thời, đời thánh hiến không thể từ khước không lên tiếng thay cho những người không có tiếng nói, và đòi hỏi công lý tại nơi không có. Chỉ như thế, đời sống thánh hiến mới là một đời sống ngôn sứ, đối nghịch với nền văn hóa gạt bỏ.”
Đức Tổng giám mục Carballo nhắc lại lời mời gọi mạnh mẽ của Đức Thánh cha Phanxicô: “Hỡi những người thánh hiến, Anh chị em hãy đánh thức trần thế! Hãy là chứng nhân về một cách thức khác để sống và hành động”, hoặc là “Trong Giáo hội, các tu sĩ được kêu gọi trở thành các vị ngôn sứ, làm chứng về lối sống của Chúa Giêsu trên mặt đất này và loan báo về Nước Thiên Chúa”.
(Oss.Rom 28-1-2020)
G. Trần Đức Anh, O.P.



Read more…

Mừng Ngày Tu Huynh 01.5

08:08 |



Ngày mồng 01 tháng 5 năm 2017, ngày lễ Thánh Giuse Công nhân, tất cả mọi người được mời gọi kỷ niệm Ngày Tu Huynh. Ngày Tu Huynh là cơ hội để tôn vinh món quà huynh đệ mà anh em dành cho Giáo hội và thế giới, để cảm ơn các anh em về đời sống tác động của họ đối với thế giới này, đồng thời khích lệ và mời gọi các bạn trẻ suy tư về đời sống thánh hiến và ơn gọi Tu Huynh.
Ngày
Tu Huynh là sáng kiến ​​của Nhóm Chuyên Gia Cố Vấn, một nhóm Tu Huynh ở Mỹ, đã khám phá các chủ đề liên quan đến đời sống tu trìtình huynh đệ, cũng như các suy để thúc đẩy ơn gọi Tu Huynh trong Giáo hội ngày nay. Các anh em Đaminh ở Hoa Kỳ là thành viên của Nhóm Chuyên Gia Cố Vấn này.
Văn kiện "Bản sắc và sứ vụ của Tu Huynh trong Giáo hội" đã mời gọi Giáo hội "làm sáng tỏ căn tính của Anh Em Tu huynh và giá trị cũng như sự cần thiết của ơn gọi này." Sau khi văn kiện được ban hành, một uỷ ban được thành lập để lên kế hoạch thực hiện, bao gồm việc cầu nguyện và phục vụ cũng như các hoạt động khác của Anh Em trong các cộng đoàn tu sĩ giáo dân, cộng đoàn pha trộn cả giáo dân lẫn giáo sĩ, các tu hội.
Một kinh nguyện đặc biệt cho việc kỷ niệm này và tập trung vào ơn gọi Tu Huynh - món quà của Chúa, anh em nhận được và chia sẻ với người khác.

Mỗi người được mời quảng bá Ngày Tu Huynh trong bối cảnh sống của mình qua phương tiện truyền thông xã hội bằng đường dẫn này https://www.instagram.com/brothersvocation/?hl=en (tiếng Anh)
Chúc mừng Ngày Tu huynh tới tất cả Anh Em trong Dòng.
Read more…

Tu huynh Paul McAuley bị thiêu chết ở Peru

06:11 |

Tu huynh Paul McAuley, 71 tuổi, người Anh, dòng Lasan, truyền giáo tại Peru, nhà hoạt động môi trường đã giúp các bộ tộc ở vùng Amazon chống lại sự tấn công của các công ty dầu khí, đã được tìm thấy trong tình trạng bị thiêu cháy tại thành phố Amazon ở Iquitos.
Hôm 02/04/2019, các học sinh đã tìm thấy thi thể tu huynh McAuley trong một ký túc xá do thầy thành lập cho các học sinh bản xứ tại thành phố Amazon. Tin tức địa phương cho biết thi thể thầy bị đốt cháy.
Các quan chức từ văn phòng công tố viên của bang đang thẩm vấn sáu thanh thiếu niên bản địa sống trong ký túc xá, tại khu phố nghèo Belén ở Iquitos, do thầy McAuley điều hành.

Cuộc đời vì thổ dân Amazon

Tu huynh Paul McAuley sinh năm 1947 tại Portsmouth, Anh quốc. Năm 1995, thầy được gửi đến Peru và đã thành lập Học viện Đức tin và Vui mừng tại một trong những khu ngoại ô của thủ đô Lima. Từ năm 2000, thầy được sai đến Iquitos, một đô thị lớn với gần nửa triệu dân trên bờ sông Amazon, ở trung tâm của miền Amazon của Peru để giúp các nhà hoạt động bản xứ và thành lập một hiệp hội dân sự có tên là Red Ambiental Loretana.
Thầy McAuley được thế giới biết đến sau khi bị Peru ra lệnh trục xuất vào năm 2010, vì giúp các bộ tộc ở vùng Amazon chống lại sự tấn công của các công ty dầu khí đang xâm chiếm vùng rừng nhiệt đới. Nhưng qua các phiên tòa, thầy đã thắng lệnh trục xuất.
Truyền thông địa phương gọi thầy McAuley là “nhà hoạt động Tarzan”, “tên khủng bố da trắng” và “linh mục người Anh gây cháy”.
Hội đồng Giám mục Peru cùng với các nhóm và các nhà hoạt động môi trường trên khắp thế giới đã vinh danh thầy McAuley.
Trong một tweet bằng tiếng Tây Ban Nha, Cơ quan điều tra môi trường, một tổ chức phi chính phủ, đã bày tỏ lòng tôn kính đối với thầy McAuley, người “đã chiến đấu cách hòa bình cho các quyền và rừng của người bản địa ở Peru. Hãy yên nghỉ, thầy Paul, chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc chiến”.
Hồng Thủy - Vatican
Read more…

Căn tính và sứ mạng của Tu huynh trong Giáo hội (giới thiệu)

00:58 |


Giới thiệu Văn kiện
Căn tính và Sứ mạng các Tu huynh trong Giáo hội


Vào ngày 04 tháng 10 năm 2015, trong khuôn khổ Năm Đời sống thánh hiến, Bộ Đời sống thánh hiến và các Tu đoàn Tông đồ đã phát hành văn kiện bàn về “Căn tính và sứ mạng các Tu huynh trong Giáo hội”. Kế đó, văn kiện này được giới thiệu với các cơ quan truyền thông qua cuộc họp báo ngày 14 tháng 12 cùng năm. Như vậy là ba năm đã trôi qua, nhưng chắc ở Việt Nam ít người biết đến văn kiện này, một phần tại vì số các Tu huynh ở nước ta không đông lắm! Thực ra, như sẽ thấy sau, văn kiện này không chỉ dành riêng cho các Tu huynh mà thôi, nhưng cũng nhắm tới các tu sĩ (đặc biệt các nữ tu), và hơn nữa, còn được gửi đến toàn thể Dân Chúa.
Thế nhưng, một câu hỏi được đặt lên: Tu huynh là ai vậy? Trước khi đi vào nội dung văn kiện, thiết tưởng nên có đôi lời dẫn nhập về từ ngữ và lịch sử.
I.                   Từ ngữ : Tu huynh
Thuật ngữ « Tu huynh » xuất hiện chưa lâu lắm. Ở Việt Nam trước năm 1975, người ta thường nghe nói đến các « sư huynh La-san » (hoặc « Thầy dòng La-san »), nổi tiếng vì điều khiển nhiều trường trung học Công giáo. « Sư huynh » dịch bởi danh từ Frères tiếng Pháp, và tự nó chỉ có nghĩa là « anh/em » ; nhưng có lẽ tiếng « sư » (thầy) được thêm vào bởi vì các « anh » dạy học. Họ là những nam tu sĩ chuyên ngành dạy học, chứ không làm linh mục, phần nào cũng tương tự như các Sœurs (tiếng Pháp có nghĩa là chị/em), phần lớn chuyên dạy học hoặc chăm sóc bệnh nhân.
Nên biết là ngoài các sư huynh La-san, ở Việt Nam cũng có những nam tu sĩ không làm linh mục, thường được gọi là các « Thầy » (tương đương với các « Sư » bên Phật giáo) : có thể là « Thầy giảng » (cộng tác với các linh mục dạy giáo lý ở các giáo xứ), hoặc « Thầy giúp » (làm việc chân tay tại các tu viện). Tuy vậy, trong các ngôn ngữ châu Âu, « sư huynh » hay « thầy dòng » đều cùng một gốc, đó là frère (tiếng Pháp), brother (tiếng Anh). Hiểu như vậy, dịch là « tu huynh » sát nghĩa hơn.
Trên thực tế, ơn gọi tu huynh không thu hút nhiều ứng sinh, bởi vì, đối với nam giới, não trạng chung là đã đi tu thì phải làm linh mục, chứ không thì thiếu cái gì đó ! Điều này không chỉ xảy ra Việt Nam, mà hầu như trên toàn thế giới. Phải chăng nếu đi tu mà không làm linh mục là tu nửa vời ? Tại sao lại có những người đi tu mà không làm linh mục ?
Tuy nhiên, khi đọc lại lịch sử đời tu Kitô giáo, thì cần phải lật ngược câu hỏi : tại sao các tu sĩ lại làm linh mục ? Ơn gọi tu sĩ khác ơn gọi linh mục, tại sao lại nhập làm một ? Để hiểu rõ vấn đề, chúng ta hãy ôn lại lịch sử Giáo hội.
II.                Lịch sử
Có thể đặt câu hỏi như thế này : Từ khi nào các tu sĩ “gia nhập hàng giáo sĩ” ? và tại sao có những tu sĩ không làm giáo sĩ ? Khỏi nói, ai cũng biết là câu chuyện này dài dòng và ngoằn ngoèo[1]. Chỉ xin tóm tắt như sau :
1/ Vào lúc đầu, các đan sĩ là một hình thức thánh hiến giáo dân (khác với các giáo dân sống ngoài đời, cũng như khác với các giáo sĩ). Điều này vẫn còn được duy trì ở bên các Giáo hội Đông phương.
2/ Bên Tây phương, từ thế kỷ VIII, bắt đầu hiện tượng « giáo-sĩ-hóa » (clericalizzazione) các đan sĩ. Tuy vậy, tại nhiều nơi, các viện phụ vẫn chỉ là “giáo dân” (và điều khiển cả các đan sĩ có chức thánh), bởi vì trong nội bộ đan viện không có sự phân biệt phẩm trật.  Mãi đến thế kỷ XI, với cuộc cải tổ của Giáo hoàng Grêgôriô VII (1050-1080), các chức vụ cai quản mới được gắn liền với chức thánh. Kể từ đó, các đan sĩ “không giáo sĩ” có cảm tưởng là sự tận hiến của mình còn bất toàn ! Sự ngăn cách giữa hai hạng đan sĩ sẽ còn tăng thêm do những yếu tố khác, như sẽ thấy dưới đây.
3/ Nguồn gốc của các “conversi”.  Tự nó, « conversi » có nghĩa là cải hoán. Bất cứ người tín hữu nào cũng được kêu gọi phải « hoán cải » để được vào Nước Trời. Cách riêng, các đan sĩ Biển đức phải khấn « hoán cải liên lỉ » (conversio morum). Tuy nhiên, theo dòng thời gian, ý nghĩa của từ này đã biến đổi, đến nỗi chỉ còn dành cho các đan sĩ không linh mục.
a)  Thực ra, ngay từ đầu, đan viện đã chấp nhận những « giáo dân » đến sống trên lãnh thổ của mình, mặc dù họ không phải là đan sĩ : họ có thể là những oblati (các thiếu nhi đến trọ học « nội trú », chứ không có ý định đi tu), những donati (những người đến làm « việc công quả », chứ không khấn dòng).
b)  Sang thế kỷ XI-XII, khi hiện tượng giáo-sĩ-hóa đã thành phổ cập, các đan viện Chartreux và Xitô nhận các đan sĩ conversi. Họ là đan sĩ (có lời khấn), nhưng không làm giáo sĩ vì thiếu điều kiện học thức (thường vì là nông dân đã lớn tuổi). Họ chuyên lo việc lao động tay chân. Các đan sĩ giáo sĩ chuyên chú vào việc phụng vụ và học hành ; các conversi thay thế việc dự kinh nhật tụng bằng việc « lần chuỗi » (kinh Lạy cha hoặc kinh Kính mừng). Điều đáng nói là họ sống thành một khu vực riêng, và không tham dự vào việc quản trị cộng đoàn.
4/ Vào buổi đầu của các dòng « hành khất » (ra đời vào thế XIII), chưa có sự phân biệt giữa các thành phần giáo sĩ và không giáo sĩ. Điều này rõ rệt nơi dòng Phan-sinh, khi mà tổng quyền Elia (từ năm 1232 đến 1239) không phải là linh mục. Tuy nhiên, do nhu cầu hoạt động tông đồ, các dòng này trở thành « giáo sĩ ». Dù sao, tại các dòng này, ta thấy có ba hạng người : a) giáo sĩ, chiếm phần đa số ; b) các « trợ sĩ », những người giúp đỡ các giáo sĩ trong công tác tông đồ hoặc các công việc trong nhà ; họ là tu sĩ, nhưng không có quyền bầu cử và ứng cử ; c) các giáo dân (một thiểu số) sinh sống và làm việc ở tu viện nhưng không khấn ; đây là vết tích của các donati của các đan viện xưa.
5/ Vào thời cận đại, có hai hiện tượng đáng ghi nhận :
a)      Một đàng là sự thành lập các dòng giáo sĩ, trong đó các tu sĩ giáo dân được coi là « trợ sĩ » (coadiutor) cho hàng giáo sĩ, và giữ một địa vị thấp kém. (Thí dụ trong Dòng Tên, các trợ sĩ không khấn trọng).
b)      Đàng khác, sự xuất hiện những dòng « giáo dân », dấn thân vào một hoạt động tông đồ chuyên biệt (giáo dục, y tế, v.v…). Trong các dòng này, tất cả các tu sĩ đều tham gia vào sinh hoạt và điều hành hội dòng, nhưng họ không làm giáo sĩ. Họ được gọi là các « frères » (brothers).
 6/ Tóm lại, có nhiều hình thức « tu sĩ không linh mục » mà ta không nên lẫn lộn khi so sánh giữa các dòng.
a)      Đan sĩ trong các dòng tu cổ điển (chẳng hạn bên Đông phương) : ơn gọi đan tu được coi như sự thánh hiến đầy đủ rồi, vì thế họ không màng đến việc làm giáo sĩ. Tất cả các đan sĩ tham gia vào mọi sinh hoạt cộng đoàn, gồm cả việc quản trị.
b)      Conversus trong các dòng đan tu vào thời Trung cổ : họ chỉ là « nhân công », chứ không tham gia vào sinh hoạt của cộng đoàn. Họ không đi côrô, và sống trong khu vực riêng biệt. Tình trạng này cũng tương đương với các oblati hoặc donati trước đây.
c)      « Trợ sĩ » (cooperator hoặc auxiliarius) trong các dòng giáo sĩ : họ thực sự là tu sĩ, nhưng ơn gọi của họ là « người giúp việc » cho các giáo sĩ. Chiếu theo giáo luật, họ không thể làm bề trên.
d)     « Trợ tá » (coadiutor) trong Dòng Tên. Họ có cam kết vĩnh viễn với Dòng, nhưng về phía Dòng, họ chỉ là tu sĩ “khấn tạm”. Đây là một đặc trưng của Dòng Tên: sau năm tập, các tu sĩ không có khấn tạm nhưng khấn trọn đời luôn. Tuy nhiên, về phía Dòng, lời khấn đó chỉ có giá trị tạm thời, theo nghĩa là họ có thể bị loại. Mãi sau một thời gian sau khi thụ phong linh mục, họ mới được gọi trở về Năm tập ba, và khấn trọng. Kể từ lúc đó, Dòng không thể trục xuất họ. Nhưng các “trợ tá” không được hưởng điều kiện này.
e)      Các dòng giáo dân (chẳng hạn như: các tu sĩ dòng thánh Gioan Thiên Chúa; các sư huynh Lasan): các tu sĩ là thành phần trọn vẹn của Dòng, với đủ mọi quyền lợi và nghĩa vụ. Họ được đào tạo chuyên môn để thi hành “đặc sủng” của Dòng (giáo dục, y tế).
7/ Chính vì thế, tìm ra một danh xưng để gọi chung tất cả các “tu sĩ không linh mục” thật là khó khăn[2]. Tông huấn Vita consecrata (số 60-61) đề nghị gọi là frater (frère tiếng Pháp, brother tiếng Anh, hermano tiếng Tây-ban-nha, fratello tiếng Ý), nhằm nêu bật ý tưởng rằng các tu sĩ là dấu chỉ của tình huynh đệ (fraternitas) mà Chúa Giêsu muốn mang lại cho thế giới.
      Dù nói gì nữa, ơn gọi các “tu huynh” trong Giáo hội đang gặp khó khăn. Chỉ cần đọc các số thống kê thì đủ rõ.  Trong vòng 50 năm từ khi bế mạc công đồng Vaticano II (1965-2015):
- Số các nữ tu từ 961.264 xuống còn 522.436 (mất đi 438.828 người, nghĩa là 45,65%)
- Số các nam tu từ 329.799 xuống còn 199.254 (mất đi 130.545 người, nghĩa là 39,58%). Trong số này các “tu huynh” sụt từ 49.002 xuống 16.378 người, nghĩa là mất 66,58%[3].
      Vì lý do gì?  Phải chăng cuộc khủng hoảng ơn gọi là hậu quả của cuộc khủng hoảng về căn tính? Có lẽ đó là lý do của văn kiện mà Bộ Đời sống thánh hiến và các Tu đoàn Tông đồ phát hành, sau nhiều năm nghiên cứu, theo đề nghị của tông huấn Vita consecrata (25 tháng 3 năm 1996).
III.             Trình bày nội dung văn kiện

Sau bốn điều dẫn nhập, Văn kiện được chia làm ba phần chính.
 A)  Trong phần thứ nhất, văn kiện đặt ơn gọi Tu huynh trong bối cảnh của Giáo-hội-học hiệp thông (số 5-11).
Trước đây, người ta thường tách biệt ơn gọi tu sĩ ra khỏi ơn gọi Kitô hữu nói chung. Văn kiện này khởi đi từ ơn gọi chung cho các Kito hữu nói chung, dựa trên bí tích Thánh Tẩy, để từ đó khám phá nét riêng của ơn gọi tu sĩ, như một dấu hiệu thúc đẩy toàn thể Giáo Hội đi theo Đức Kitô.
B)  Phần thứ hai dài hơn cả, đi sâu vào căn tính và sứ mạng của Tu huynh.
Tu huynh muốn họa lại chân dung Đức Kitô như là “người anh”, đơn sơ, tốt lành, gần gũi dân chúng, quảng đại, vui tươi. Đặc trưng ơn gọi các tu huynh là tình huynh đệ. Đề tài này được khai triển dưới ba chiều kích của Giáo hội: mầu nhiệm – hiệp thông – sứ mạng, đã được phác thảo trong tông huấn Vita consecrata (Confessio Trinitatis, Signum fraternitatis, Servitium caritatis).
1)      Mầu nhiệm: Tình huynh đệ, món quà chúng ta lãnh nhận (số 13-20)
Ơn gọi được nhìn trong tương quan Thiên Chúa Ba ngôi, là sự đáp trả lại tình yêu của Thiên Chúa. Văn kiện chú ý đến sự thánh hiến bản thân như việc thực hành chức tư tế phổ quát. Việc dâng hy tế thiêng liêng mang tính cách toàn diện: trong khi cử hành phụng vụ cũng như trong cuộc sống hằng ngày. Dù sao, ơn gọi là một ân huệ của Thiên Chúa hơn là một cố gắng của con người. Điều này cũng được áp dụng cho tình huynh đệ nói riêng: đây là một cảm nghiệm về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho ta.
2)      Hiệp thông: Tình huynh đệ, món quà để chia sẻ (số 21-26)
Có thể coi như chiều kích đối nội của ơn gọi. Tu huynh kiến tạo tình huynh đệ phục vụ từ cộng đoàn của mình. Cộng đoàn là nơi các tu sĩ muốn chia sẻ những ân huệ đã nhận lãnh, để phục vụ Vương quốc Thiên Chúa. Đồng thời cộng đoàn cần được xây dựng mỗi ngày, nhờ sự hiệp lực của mỗi thành phần, cùng với sự hỗ trợ của ơn trên. Điều này cho thấy sự cần thiết của một linh đạo.
3)      Sứ mạng: Tình huynh đệ, món quà để trao tặng (số 27-31)
Từ cảm nghiệm tình yêu huynh đệ trong cộng đoàn, Tu huynh muốn chia sẻ tình huynh đệ với những người bé mọn, theo gương Đức GiêsuNgười Mục tử Nhân Lành” tìm kiếm người anh em thất lạc, quan tâm đến ơn cứu độ toàn diện của con người. Tất cả nhằm đến việc xây dựng một thế giới của những người con cái Thiên Chúa và sống tình huynh đệ với Chúa Kitô. Có sự liên hệ chặt chẽ giữa cộng đoàn và sứ mạng. Tuy nhiên, không nên đồng hóa sứ mạng với một công việc cụ thể, nhưng cần được nhìn trong bối cảnh rộng lớn hơn của sứ mạng loan báo Tin mừng.
C) Phần thứ ba đề cập đến việc đào tạo (số 32-40)
Việc đào tạo không chỉ dừng lại ở giai đoạn sơ khởi nhưng còn kéo dài suốt đời (đào tạo thường xuyên). Kể cả những người đã nghỉ hưu sau thời gian hoàn tất một công tác của nghề chuyên môn vẫn không được nghỉ hưu dưới cái nhìn của sự thánh hiến. Các vị cao tuổi có thể trở thành các vị thầy sự sống nhờ kinh nghiệm cuộc đời. Mặt khác, việc đào tạo cũng đặt ra cho toàn dòng, theo nghĩa là cần xét lại đặc sủng sáng lập trong những hoàn cảnh mới của thời đại.
IV.             Vài nhận xét

Như đã nói trên đây, ngày nay khi nói đến Tu huynh (theo nghĩa là nam tu sĩ không làm linh mục), ta cần phải phân biệt nhiều hạng: a) đan sĩ trong các dòng đan tu cổ truyền; b) các tu sĩ trong những dòng tu giáo sĩ; c) các tu sĩ trong dòng tu giáo dân.
Xem ra văn kiện này thích hợp hơn cả với hạng thứ ba này, vì trình bày giá trị của ơn gọi thánh hiến tự nó, đặt nền trên bí tích Thánh tẩy. Các tu sĩ thực hành chức tư tế phổ quát qua việc dâng hiến cuộc đời để phục vụ Nước Chúa. Họ xây dựng tình huynh đệ cộng đoàn và phục vụ nhân loại trong những nhu cầu vật chất và tinh thần, đặc biệt là người nghèo. Xét dưới khía cạnh này, các nữ tu hoạt động bác ái xã hội cũng tìm thấy điều rất hữu ích trong văn kiện này.
Vấn đề trở thành phức tạp hơn khi bàn đến vai trò của các Tu huynh trong các dòng giáo sĩ hoặc dòng “hỗn hợp”: họ chia sẻ sứ mạng cùng với các giáo sĩ, với những hình thức khác, và họ không được tham dự hoàn toàn vào việc quản trị cộng đoàn chiếu theo quy định hiện hành của bộ giáo luật (x. điều 588 §2). Bộ Đời sống thánh hiến hứa sẽ can thiệp để giải quyết sự khó khăn này.
Vài lưu ý về việc dịch thuật
-          Frère/ Brother tùy theo văn mạch, có khi dịch là “tu huynh” có khi là “người anh em”.
-          Identité / Identity: căn tính (tuy cũng có thể dịch là “bản sắc”). Một cách tương tự như vậy, Mission được dịch là “sứ mạng” (tuy cũng có thể dịch là “sứ vụ”).


Gò vấp, ngày 3 tháng 11 năm 2018, lễ thánh Tu huynh Martino de Porres O.P.
Phan Tấn Thành


[1] Xem : J. Bonduelle, “Convers” in: Dictionnaire de Droit canonique, vol.IV (1949), 562-587. J. Dubois, « Converso : in : Dizionario degli Istituti di Perfezione, vol.III (1976) 110-120).
[2] Trước đây gọi là “tu sĩ giáo dân” (religiosi laici, tiếng Anh: lay brother); nhưng thuật ngữ này không thích hợp xét vì trong Giáo Hội, “hàng ngũ tu sĩ” (status religiosorum) khác với “hàng ngũ giáo dân » (status laicorum).
[3] Các con số trích từ hai cuốn sách của cha A. Pardilla, I religiosi ieri, oggi e domani, Ed. Rogate Roma 2007 ; Le religiose ieri, oggi e domani, Libreria editrice Vaticana 2008. Cf. Riccardo Benotti, I numeri della vita religiosa a 50 anni dal Concilio, https://agensir.it/chiesa/2016/09/23/i-numeri-della-vita-religiosa-a-50-anni-dal-concilio-perche-la-crisi-non-e-ancora-alle-spalle/
Read more…

Căn tính và sứ mạng của Tu huynh trong Giáo hội (phần 01)

00:55 |

BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

CÁC TU ĐOÀN TÔNG ĐỒ



 

DẪN NHẬP

Tu huynh
1. Ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, đời sống thánh hiến gồm thành phần chủ yếu là các giáo dân, những người nam và nữ thể hiện sự khao khát sống cách triệt để những gì Tin mừng đòi hỏi nơi tất cả những ai đi theo Đức Giêsu. Kể cả ngày nay, đại đa số những người sống đời thánh hiến, - cả nam lẫn nữ -, là giáo dân.
 Tu huynh” là tên gọi truyền thống dành cho Nam tu sĩ[1] trong Giáo hội từ lúc khởi đầu đời sống thánh hiến. Dĩ nhiên, tên gọi này không chỉ dành riêng cho họ, nhưng nó truyền đạt cho cộng đoàn Hội thánh mà anh là phần tử một vai trò làm ký ức ngôn sứ cho Đức Giêsu – là Người Anh đã nói với các môn đệ: “Tất cả các con đều là anh em với nhau” (Mt 23,8)[2]
Theo Tin Mừng Mátthêu, Đức Giêsu nói lời này trong bối cảnh Người chống lại thói đạo đức giả của những kẻ lợi dụng tôn giáo để mưu cầu tư lợi và vinh quang trước mắt loài người. Nhưng giá trị của lời này còn đi xa hơn bối cảnh cụ thể của nó. Thật vậy, danh xưng anh em / chị em đề cao phẩm giá chung và bình đẳng của tất cả các tín hữu. Họ là những người con trong Người Con của cùng một Cha trên trời (Mt 5, 45), được mời gọi để hình thành một tình huynh đệ đại đồng trong Đức Kitô, người anh cả của mọi người (x. Rm 8, 29).
Mặc dù Huấn thị này bàn trực tiếp về đời sống và sứ mạng của các Tu huynh, nhưng nhiều vấn đề được thảo luận ở đây, - chẳng hạn sự tham gia vào mầu nhiệm hiệp thông, tình huynh đệ hoặc vai trò ngôn sứ của đời sống chứng tá và phục vụ -, cũng được áp dụng cho cả đời sống và sứ mạng của các người nam và các người nữ sống đời thánh hiến.
Các nam nữ tu sĩ, bằng sự tham dự vào mầu nhiệm cứu độ của Đức Kitô và Giáo Hội, là lời nhắc nhở thường xuyên cho tất cả các Kitô hữu về việc cần phải dâng trót cả cuộc đời như món quà hiến dâng cho Thiên Chúa. Các người tận hiến cũng nhắc nhở rằng sứ mạng của Giáo hội chỉ là một và được chia sẻ cho nhiều người, tuy vẫn tôn trọng sự khác biệt của các ơn gọi và tác vụ khác nhau. Tuy vậy, chúng ta nhận thấy rằng ơn gọi Tu sĩ (nam cũng như nữ) đã không luôn luôn được hiểu đúng và trân trọng trong Giáo Hội.
Suy tư dưới đây ước mong góp phần vào việc quý trọng vẻ phong phú của các ơn gọi khác nhau, - cách riêng nơi các người nam sống đời thánh hiến-, và làm sáng tỏ căn tính của các Tu huynh cũng như giá trị và sự cần thiết của ơn gọi này.
Văn kiện này nhắm đến ai
2. Các tu huynh hiện nay chiếm một phần năm trong tất cả các người nam sống đời thánh hiến trong Giáo hội. Một số thuộc các hội dòng giáo sĩ ; số khác ở những hội dòng hỗn hợp. Số khác nữa gia nhập hội dòng tu huynh, cũng được gọi là Hội Dòng Anh Em[3], gồm tất cả (hoặc hầu hết) các thành viên là Tu sĩ Giáo Dân. Văn kiện này nhắm trực tiếp đến tất cả những người này, với hy vọng rằng nó sẽ giúp họ củng cố ơn gọi của mình.
Xét vì có những điểm giống nhau giữa ơn gọi nữ tu và nam tu, nên những gì được đưa ra bàn ở đây cũng dễ dàng áp dụng cho các nữ tu nữa.
Văn kiện này cũng hướng đến các giáo dân, linh mục tu sĩ, linh mục giáo phận, giám mục và tất cả những ai muốn tìm hiểu, đánh giá và cổ vũ ơn gọi Tu huynh trong Giáo Hội.
Khung cảnh cho việc suy tư
3. Tông huấn Đời sống Thánh Hiến của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được sử dụng làm bộ khung cho suy tư đặc biệt về Tu huynh, và chúng tôi tham chiếu Tông huấn này cho tất cả các đặc điểm chung làm nên căn tính của đời sống thánh hiến. Chúng tôi chỉ nhắm trình bày ở đây những điều đặc trưng và riêng biệt của ơn gọi này, mặc dù không thể nào tránh khỏi việc quy chiếu về đời thánh hiến nói chung, cũng như các văn kiện kể từ Công Đồng Vaticanô II trình bày về đời thánh hiến trong khung cảnh của Giáo hội hiệp thông [4].
Nhiều đặc tính trước đây được vạch ra như là đặc thù hoặc thậm chí dành riêng cho đời thánh hiến thì ngày nay được nhìn nhận là thuộc về kho tàng chung của Giáo hội và được đề nghị cho tất cả các tín hữu. Ngày nay các tu sĩ được thách đố phải nhận ra căn tính của chính mình khi nhận ra trong cái chung với mọi người điều gì được sống theo hình thức riêng biệt của mình, để rồi từ đó trở nên dấu chỉ cho mọi người.
Sơ đồ của văn kiện này
4. Trước tiên chúng tôi giới thiệu Tu huynh trong Giáo hội-Hiệp thông, như là một phần của đoàn Dân duy nhất được Tuyển chọn, trong đó mỗi người được mời gọi tỏa chiếu sự phong phú ơn gọi đặc biệt của mình.
Tiếp đến là dựa theo ba chiều kích mà Giáo hội hiệp thông giới thiệu chính mình[5], chúng tôi sẽ phát triển căn tính các Tu huynh như mầu nhiệm hiệp thông cho sứ mạng. Cốt lõi của căn tính các Tu huynh nằm ở trung tâm của ba viễn ảnh đó : tình huynh đệ là món quà được lãnh nhận (mầu nhiệm), món quà được chia sẻ (hiệp thông) và món quà được trao ban (sứ mạng).
Cuối cùng, chúng tôi sẽ đề xuất một vài hướng dẫn ngõ hầu, ở khắp nơi trên thế giới, mỗi cộng đoàn và mỗi Tu huynh có thể trả lời câu hỏi này: làm thế nào trở nên người anh em trong thời đại hôm nay ?

1. CÁC TU HUYNH TRONG GIÁO HỘI HIỆP THÔNG

“Ta đã chọn ngươi làm giao ước với muôn dân” (Is 42, 6)

Một khuôn mặt cho giao ước
5. Nhờ Thần khí lễ Ngũ Tuần thúc đẩy, cuộc canh tân của Công đồng Vaticanô II đã giúp cho Giáo Hội làm nổi bật cốt lõi của bản chất của mình, được mặc khải như là mầu nhiệm hiệp thông[6]. Mầu nhiệm này là kế hoạch Thiên Chúa cứu độ nhân loại[7], được thực hiện trong lịch sử của giao ước.
Nguồn mạch của mầu nhiệm này không phải bởi chính Giáo hội nhưng là bởi Thiên Chúa Ba Ngôi, trong sự hiệp thông của Chúa Con với Chúa Cha trong sự trao ban Thánh Linh. Sự hiệp thông này là kiểu mẫu, nguồn mạch và cùng đích sự hiệp thông của các Kitô hữu với Đức Kitô; và từ đó phát sinh sự hiệp thông giữa các Kitô hữu với nhau[8].
Đời thánh hiến, “nằm ngay giữa lòng Giáo hội như một yếu tố quyết định đối với sứ mạng của Giáo hội”[9], phải nhìn vào đó để khám phá và hiểu biết chính mình. Các Tu huynh sẽ tìm thấy nơi đây ý nghĩa sâu xa ơn gọi của mình. Trong sự chiêm ngắm này, họ được truyền cảm hứng từ gương mặt của người Tôi Trung của Giavê được ngôn sứ Isaia mô tả. Thiên Chúa nói với ông : “Ta đặt ngươi làm giao ước với muôn dân(Is 42,6). Gương mặt này hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Giêsu Nazareth, Người dùng máu của mình để ký kết giao ước mới và mời gọi những ai tin vào Người hãy tiếp tục nhiệm vụ trung gian được giao phó cho người Tôi tớ: trở thành giao ước với muôn dân.
Căn tính làm trung gian của người Tôi Trung vừa mang một ý nghĩa cá nhân cũng như cộng đoàn, bởi vì nó liên quan tới phần còn sót lại của Israel, dân thiên sai, mà Công đồng nói là: “được Đức Kitô thiết lập để trở thành sự hiệp thông của sự sống, bác ái và chân lý, được Người sử dụng như khí cụ cứu rỗi cho mọi người và được sai đi khắp thế giới như ánh sáng trần gian và muối đất.” (x. Mt 5, 13-16)[10]
Cảm nghiệm mình được thông dự vào dân này và vào sứ mạng của nó, các Tu huynh sống ơn kêu gọi làm ký ức của giao ước qua sự thánh hiến bản thân cho Thiên Chúa trong đời sống huynh đệ cộng đoàn hướng tới sứ mạng[11]. Nhờ thế, họ làm sáng tỏ hơn sự hiệp thông mà tất cả Dân Thiên Chúa được mời gọi để thực hiện
Hiệp thông với Dân Thiên Chúa
6. Được Thánh Linh hướng dẫn, ngày nay Giáo Hội ý thức sâu xa rằng mình là Dân Thiên Chúa, trong đó tất cả mọi người đều có cùng chung một phẩm giá nhờ bí tích Thánh tẩy[12], tất cả đều có ơn gọi chung là nên thánh[13], và tất cả đều chia sẻ trách nhiệm loan báo tin mừng[14]. Mỗi người theo ơn gọi, đặc sủng và chức vụ của mình, trở thành dấu chỉ cho tất cả những người khác[15]. Chính trong đoàn dân của những người được thánh hiến này mà nảy sinh và được tháp nhập đời sống thánh hiến (gồm cả các tu sĩ giáo dân), bằng một sự thánh hiến mới và đặc biệt, phát triển cùng đào sâu ơn thánh hiến của bí tích Thánh tẩy[16]. Đời sống thánh hiến tham gia “một cách đặc biệt vào chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô, mà Thánh Linh ban cho toàn thể Dân Thiên Chúa”[17]; đời sống này thể hiện đặc sủng riêng biệt của mình trong mối tương quan và liên tục với các đặc sủng khác trong Giáo hội; đời sống này kết hợp với sứ mạng của Giáo hội và cùng chia sẻ với các tín hữu khác.
Các Tu huynh tìm thấy môi trường sinh sống tự nhiên của họ trong bối cảnh hiệp thông này, nhờ việc thuộc về Dân Thiên Chúa; họ cũng hiệp nhất với tất cả mọi người, nhờ ơn thánh hiến tu trì, phản ánh bản chất của Giáo Hội là mầu nhiệm hiệp thông. Trong Giáo Hội, họ bảo tồn “nghĩa vụ huynh đệ như một tuyên xưng về Thiên Chúa Ba Ngôi[18].
Các mối dây hiệp thông của Tu huynh trải rộng ra ngoài phạm vi Giáo Hội, bởi vì chúng được thúc đẩy bởi cùng một “đặc tính phổ quát sáng chói nơi Dân Thiên Chúa”[19]. Ơn gọi Tu huynh là một phần lời đáp trả mà Thiên Chúa dành cho thế giới hôm nay đang bị sút giảm tình huynh đệ. Cội rễ của ơn gọi Tu huynh nằm ở cảm nghiệm sâu xa về tình liên đới, giống như trường hợp ông Môsê trước bụi gai bốc cháy: ông khám phá ra chính mình là mắt, là tai, là trái tim của Thiên Chúa, vị Thiên Chúa thấy dân Người bị áp bức, nghe tiếng kêu than của họ, cảm thương nỗi thống khổ của họ và xuống để giải thoát họ. Trong trải nghiệm sâu đậm đó, Tu huynh nghe thấy lời mời gọi : “Ngươi hãy đi, Ta sai ngươi đến với vua Pharaô để đưa dân Ta ra khỏi Ai Cập” (x. Xh 3, 7-10). Vì thế, ở nơi Tu huynh, chiều kích hiệp thông gắn kết chặt chẽ với sự nhạy cảm sâu sắc đối với tất cả những gì xúc phạm đến phẩm giá của những người dân thấp kém nhất; những người bị áp bức bởi các hình thức bất công khác nhau, những người bị gạt ra bên lề của lịch sử và sự phát triển, nói cho cùng, là những người ít có khả năng trải nghiệm tin mừng về tình yêu của Thiên Chúa trong đời sống của họ.
Ký ức sống động cho nhận thức của Giáo Hội
7. Tác vụ đầu tiên mà các Tu huynh thể hiện trong Giáo hội trong vai trò tu sĩ là “nhắc nhớ cho những người đã được Rửa tội về các giá trị cơ bản của Tin Mừng” và “bổn phận phải đáp trả tình yêu Thiên Chúa đã được Thánh Linh đổ tràn xuống tâm hồn vào lòng (x. Rm 5,5)[20]. Tất cả mọi công việc và nhiệm vụ khác do các hình thức khác nhau của đời thánh hiến cung cấp chỉ có ý nghĩa khi được cắm rễ trên tác vụ đầu tiên này.
Chức năng làm dấu chỉ, được Công Đồng Vaticanô II[21] nhìn nhận và năng được nhấn mạnh trong Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến[22], là điều cốt yếu cho đời thánh hiến và xác định hướng đi của nó: nó không hiện hữu “vì mình”, nhưng là vì cộng đồng Giáo hội.
Quả vậy, đời thánh hiến, khi cho thấy cuộc đời như là chứng tá cho tính tuyệt đối của Thiên Chúa[23], cũng như là một tiến trình cởi mở với Thiên Chúa và mọi người dưới ánh sáng của Tin Mừng, là lời kêu gọi tất cả mọi tín hữu, kêu mời mỗi người hãy sẵn sàng sống cách triệt để, mở ra cho những ân ban và những tiếng gọi của Thánh Linh[24], trong những hoàn cảnh và bậc sống khác nhau.

Tình huynh đệ của các Tu huynh là một sự thôi thúc toàn thể Giáo Hội, khi đối mặt với cám dỗ muốn thống trị, muốn tìm kiếm địa vị cao nhất, hoặc thi hành quyền bính như là quyền lực, thì hãy nhớ đến giá trị Tin Mừng của các mối tương quan huynh đệ và bình đẳng: “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "ráp-bi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô” (Mt 23,8-10).
Ngày nay, đối với Giáo hội, tình hiệp thông là một thách đố cấp bách trong thiên niên kỷ mới, làm thế nào để Giáo hội trở thành nhà và trường của sự hiệp thông[25]. Các Tu huynh là những cư dân hoạt động trong ngôi nhà này và đồng thời là các sinh viên cũng như thầy giáo trong trường học ấy. Vì thế, họ lãnh lấy cho mình việc thực hiện điều cấp bách mà Giáo hội đề ra: đó là nâng đỡ và thăng tiến một linh đạo hiệp thông[26].
Tái khám phá kho tàng chung
8. Các tương quan trong Giáo hội hiệp thông được thiết lập từ những gì liên kết nhau chứ không phải từ những gì phân cách. Ngày nay, chúng ta đang khám phá ý thức về gia sản chung, tựa như một kho báu to lớn làm cho chúng ta bình đẳng trong điều cơ bản, trong phẩm giá, quyền lợi và nghĩa vụ chung. Tất cả chúng ta được sinh ra trong đức tin, chúng ta gia nhập Giáo hội bằng bí tích Thánh Tẩy. Trong khuôn khổ chung này, chúng ta được mời gọi thực hiện các trách nhiệm phục vụ cộng đoàn Giáo hội, để sống cách ý nghĩa hay tính ngôn sứ một vài khía cạnh thuộc về gia sản chung, và phục vụ sứ mạng chung qua các đặc sủng và nhiệm vụ cụ thể của chúng ta.
Chiều kích căn bản này của đời sống đức tin không bao giờ rời bỏ chúng ta.  Các Kitô hữu giáo dân sống chiều kích ấy theo hình thức đặc thù của đời sống giáo dân. Đối với những người được gọi vào tác vụ linh mục hoặc sống đời thánh hiến, thì chiều kích đời sống tín hữu là điểm quy chiếu thường xuyên nhắc nhở họ rằng họ thi hành tác vụ cho ai và là dấu chỉ thánh hiến cho ai.
Tu huynh, được cắm rễ trong đoàn dân Kitô hữu, nhận được những chứng tá và trợ giúp của các ơn gọi khác. Họ được mời gọi để sống cách trọn vẹn và tính ngôn sứ mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội trong đời thánh hiến, nhằm phục vụ toàn thể Dân Thiên Chúa[27].
Một dự án đổi mới
9. Đời thánh hiến, vào lúc đầu đa số là giáo dân, đề xuất như mục tiêu căn bản là chăm lo gia sản chung Kitô hữu, được lưu giữ và trao tặng cho tất cả các tín hữu trong các bí tích khai tâm. Chắc chắn đời sống đó phải được thực hiện theo cách thức đặc biệt, tìm kiếm họa ảnh Chúa Kitô trong lối sống khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục[28].
Trải qua thời gian, nơi các dòng tu nam giới, mục tiêu cốt yếu ấy của đời thánh hiến đã có nguy cơ tụt xuống hàng thứ yếu so với các tác vụ linh mục. Để khôi phục lại vai trò đích thực của nó, trong dòng lịch sử, Thánh Linh đã gợi lên những vị sáng lập muốn nêu bật đặc tính giáo dân trong cộng đoàn của họ. Điều này đã xảy ra trong đời sống đan tu của thánh Biển Đức, nơi mà các đan sĩ tu huynh trở thành những nhà truyền giảng Tin Mừng ở Âu Châu; đó cũng là lối sống căn bản của Thánh Phanxicô, nơi mà các Anh Em Hèn Mọn ra đời như là một dòng hỗn hợp, gồm bởi các linh mục và giáo dân. Trong cả hai trường hợp này, xu hướng tiến tới chức linh mục đã lấn lên trên dự án thành lập lúc ban đầu.
Vào thế kỷ XVI và XVII, các vị sáng lập mới đã phục hồi đời tu sĩ giáo dân. Các dòng này, ngoài việc đề cao những tương quan huynh đệ giữa các phần tử, còn xác định căn tính của mình với những nhu cầu xã hội mà họ gắng đáp ứng. Họ cũng thiết lập cộng đoàn ở trong hoặc gần những nơi mà con người đang sống trong tình trạng túng quẫn, nghèo hèn hoặc kém cỏi mà họ phải rao giảng tin mừng. Như vậy, họ du nhập và làm tỏ hiện tình yêu cứu độ của Thiên Chúa  ngay từ bên trong cảnh sống con người. Những tình huynh đệ thánh hiến ấy đã làm chỗi dậy các dòng tu huynh và nữ tu. Trong số các dòng ấy, thánh Gioan Thiên Chúa và thánh Gioan Lasan, cũng như thánh Angela Merici và Mary Ward về phía nữ, đã trở thành những khí cụ của Thánh Linh, để đưa vào Giáo hội nhiều đặc sủng sáng lập mới, được phát triển trong suốt thế kỷ XIX.
Các Tu huynh, hoặc trong các đan viện, tu viện, cộng đoàn đời sống tông đồ hoặc huynh đoàn như vừa mô tả, đều nêu bật phẩm giá của việc phục vụ hay tác vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu đa dạng của nhân loại. Các việc phục vụ này, được kết hợp với sự thánh hiến của họ và được thi hành một cách chuyên nghiệp, đã trở thành nơi mà họ được cảm nghiệm về Thiên Chúa.
Phát triển kho tàng chung
10. Bối cảnh hiện tại của Giáo hội - hiệp thông vừa tạo điều kiện thuận tiện lại vừa đòi hỏi hơn bao giờ hết các Tu huynh phải tái xác nhận chức năng cấu thành nên đời thánh hiến, với một sự dấn thân được đổi mới, không chỉ trong cộng đoàn của mình mà cả trong toàn thể Giáo Hội nữa. Họ được kêu gọi trở thành men trong bột, như những người có khả năng hướng dẫn đời sống tâm linh[29], đồng hành huynh đệ với các tín hữu và giúp họ khám phá sự phong phú của truyền thống Kitô giáo, hoặc đơn giản là các Tu huynh chia sẻ những kinh nghiệm riêng tư của mình cho các người khác để giúp đỡ lẫn nhau.
Chúng tôi muốn nêu bật một số khía cạnh của kho tàng chung này mà các Tu huynh cam kết phát triển nó.
- Đời sống bí tích. Đời thánh hiến đặt nền tảng vững chắc trên bí tích Thánh tẩy và các bí tích khai tâm khác. Từ đó, Tu huynh thể hiện tình con thảo đối với Chúa Cha, cử hành đời sống mới đã nhận lãnh từ Chúa Phục Sinh,  cảm thấy mình được gắn kết với Chúa Giêsu Kitô là Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế, và để cho Thánh Linh hướng dẫn.
- Thuộc về Dân Thiên Chúa. Tu huynh xác nhận việc thuộc về cộng đoàn tín hữu, bằng sự hội nhập vào Giáo hội địa phương, và vào các cơ cấu hiệp thông và tông đồ, phù hợp với đặc sủng của mình. Tu huynh cũng xác nhận việc thuộc về cộng đồng nhân loại, cảm thấy liên đới với tất cả mọi nhu cầu của họ, đặc biệt với những người thấp bé và dễ bị tổn thương: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu  và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ… không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ[30].
- Kết hợp nơi bản thân tính phàm tục và linh thánh. Tu huynh kết hợp cả hai khía cạnh này nơi bản thân mình. Như thế, họ duy trì sự hiệp nhất giữa thế tục và thánh thiêng, một sự hiệp nhất đã trở thành hiển nhiên nơi cuộc nhập thể của Con Thiên Chúa.
- Dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa nơi các thực tại trần thế. Tu huynh đảm nhận những tác vụ của Giáo hội cùng với các anh em cùng dòng và với các tín hữu cùng tham dự vào đặc sủng của đấng sáng lập. Qua việc dấn thân này, họ tìm kiếm và cho thấy Thiên Chúa hiện diện trong những thực tại trần thế tựa như văn hóa, khoa học, sức khỏe con người, thế giới lao động, chăm sóc các người yếu đuối và chịu thiệt thòi. Đồng thời, họ cũng tìm kiếm và khám phá con người, cả nam lẫn nữ, trong tính “duy nhất và toàn diện, với thể xác và linh hồn, tình cảm và lương tri, trí khôn và ý chí”, trong niềm xác tín rằng "cần phải cứu vớt con người, cần phải xây dựng xã hội lòai người"[31].
- Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn. Tu huynh vun trồng sự hiệp thông huynh đệ trong đời sống chung và dự phóng sự hiệp thông như là cách thế hiện hữu trong các tương quan bên ngoài cộng đoàn. Dựa vào những kinh nghiệm nòng cốt về ơn gọi của mình, những cảm nghiệm cá nhân với Chúa Giêsu là người Con yêu dấu của Chúa Cha, họ sống giới răn mới của Chúa như là trọng tâm của cuộc sống và như là cam kết đầu tiên của đời thánh hiến.
- Chia sẻ đoàn sủng. Tu huynh ý thức được sự phong phú chứa đựng trong đoàn sủng nền tảng của mình, và họ chia sẻ đoàn sủng cho các giáo dân khác, để cho những người này có thể sống đoàn sủng theo lối sống riêng của họ[32]. Tu huynh chấp nhận để trở nên khí cụ của Thánh Linh trong việc thông truyền đoàn sủng và đảm nhận trách nhiệm làm ký ức sống động của đấng sáng lập. Như thế,  đoàn sủng vẫn giữ được sự phong phú của Tin Mừng  để xây dựng Giáo hội, thiện ích của con người và nhu cầu của thế giới[33].
Trong khi phát triển kho tàng chung, Tu huynh nhận thức chính mình là anh em với các Kitô hữu và nghe trong tâm khảm tiếng gọi của Chúa dành tôi tớ cho Người, “Ta đã chọn ngươi làm giao ước với muôn dân” (Is 42, 6). Ơn gọi này mang ý nghĩa cho cả đời sống và hoạt động của họ, nó biến đổi họ thành ngôn sứ giữa các anh em của mình, và, nhờ vào đó, họ sống đời thánh hiến trong một cộng đoàn truyền giáo và loan báo tin mừng.
Người anh em: một kinh nghiệm Kitô giáo thuở ban đầu
11. “Tôi đặc biệt xin các Kitô hữu trong các cộng đồng trên khắp thế giới hãy cống hiến một chứng tá rực sáng và hấp dẫn về tình hiệp thông huynh đệ. Hãy làm cho mọi người thán phục vì anh chị em chăm lo cho nhau, khích lệ và nâng đỡ lẫn nhau: ‘Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thầy: các con(Ga 13, 35)”[34]. Lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô gửi đến toàn thể các Kitô hữu nêu bật vị trí quan trọng của tình huynh đệ trong toàn bộ gia sản Kitô giáo. Đó là viên ngọc mà Tu huynh phải chú ý mài giũa. Nhờ thế, đối với cộng đoàn Giáo hội, họ là ký ức ngôn sứ về nguồn gốc của Giáo hội và khích lệ mọi người hãy quay về với nguồn mạch.
Sách Công vụ Tông đồ trình bày Giáo hội sơ khai như một cộng đoàn các môn đệ với sứ mạng công bố ơn cứu độ và làm chứng về Đấng Phục Sinh ; họ tìm thấy sức mạnh  trong Lời Chúa, trong việc bẻ bánh, trong cầu nguyện và trở thành anh chị em với nhau. Các môn đệ là anh chị em với nhau; đây là dấu chỉ họ là môn đệ Đức Giêsu. Nhưng họ là anh em với nhau không do chọn lựa cá nhân nhưng bởi vì được quy tụ. Họ được kết hợp với nhau trước khi được sai đi.
Tình huynh đệ là nguồn sức mạnh cho sứ mạng, nhưng nó được dựa trên sức mạnh khác: Thánh Linh. Vào ngày lễ Ngũ Tuần, Thánh Linh hiện xuống trên các anh em đang họp nhau cầu nguyện và sai họ đi làm chứng nhân (Cv 2,1tt). Hơn nữa, Thánh Linh  xuống trên anh em đoàn tụ cầu nguyện để nâng đỡ nhau sau khi ông Phêrô và Gioan bị bắt và được thả ra; Thánh Linh đổ tràn sức mạnh trên họ để họ can đảm rao giảng Lời Chúa (Cv 4,23tt). Trình thuật của sách Công vụ tông đồ cho chúng ta thấy rằng cộng đoàn các môn đệ dần dần nhận thức ra tình huynh đệsứ mạng gắn chặt với nhau, và cả hai đều được tăng trưởng nhờ sự sự thúc đẩy hoặc đòi hỏi của Thánh Linh. Đây là động lực được thiết lập: việc vun trồng tình huynh đệ tạo ra ý thức lớn hơn về sứ mạng và việc thi hành sứ mạng sẽ thăng tiến tình huynh đệ.
Sự thúc đẩy của Thánh Linh điều chỉnh và đổi mới sứ điệp đó trong Giáo hội, đặc biệt trong khung cảnh của đời thánh hiến. Vì thế Thánh Linh khơi dậy sự hiện diện của các Tu huynh trong các dòng tu giáo sĩ. Sự hiện diện của họ là quan trọng, không chỉ là một sự đóng góp về mặt vật chất và những nhu cầu khác, nhưng nhất là bởi vì trong những dòng này, các Tu huynh là ký ức thường xuyên của “chiều kích căn bản của tình huynh đệ trong Đức Kitô[35] mà mọi thành viên cần phải kiến tạo. Cùng vì một lý do ấy, Thánh Linh cũng gợi lên các Hội Dòng Tu Huynh, cùng với các Hội dòng Chị em nữ tu. Tất cả các Hội Dòng này  gợi lên thường xuyên trong Giáo Hội những giá trị cao cả của tình huynh đệ và  sự trao hiến bản thân như là biểu hiện tuyệt vời của sự hiệp thông.
Tên gọi “các Tu huynh” nói lên rằng sứ mạng căn bản mà các Tu sĩ này đảm nhận trong đời sống của họ : “Các tu sĩ này được kêu gọi trở thành những người anh em của Đức Kitô, kết hợp sâu xa với Người, “trưởng tử giữa một đoàn anh em đông đúc” (Rm 8, 29); trở thành anh em với nhau trong tình yêu mến nhau và trong việc cộng tác với nhau trong cùng một công việc phục vụ để mưu ích cho Giáo hội ; trở thành anh em của mỗi người bằng việc làm chứng tá về tình thương của Đức Kitô đối với tất cả mọi người, đặc biệt đối với những người nhỏ bé và những người nghèo túng nhất; trở thành anh em để đạt tới một tình huynh đệ rộng lớn hơn trong Giáo hội”[36].

 

2. CĂN TÍNH TU HUYNH:

Mầu nhiệm của hiệp thông cho sứ mạng


Ký ức về tình yêu của Chúa Kitô: “cũng như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:14-15)
12. Để đào sâu căn tính của Tu huynh, chúng ta hãy để cho mình được soi sáng bằng việc chiêm ngắm một trong những bức icôn ấn tượng nhất của tất cả bốn Tin Mừng: Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ.
Trình thuật tin mừng Thánh Gioan về bữa Tiệc ly mở đầu với tuyên bố trang trọng như sau: “Đức Giêsu… vốn yêu thương những người thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Bữa tiệc ly của Đức Giêsu với các môn đệ diễn ra trong một khung cảnh di chúc: Chúa Giêsu muốn mời gọi các môn đệ, và qua họ, toàn thể Giáo Hội, tiếp tục sứ vụ cứu độ  mà tuyệt đỉnh là cái chết của Người trên thập giá nhưng đã được thực hiện trong suốt cuộc đời, đã được diễn tả trong câu trả lời cho các môn đệ ông Gioan: “Hãy về và kể cho ông Gioan điều các anh đã thấy và đã nghe: kẻ mù được sáng mắt, người què đi được, người phong hủi được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại và người nghèo được nghe tin mừng cứu độ” (Lc 7,22).
Bởi vậy Giáo hội cảm nhận mình được thiết lập như là đoàn dân phục vụ theo mệnh lệnh của Đức Giêsu. Các sách Tin mừng trình bày sự thiết lập tác vụ Giáo hội qua hai biểu tượng. Tin Mừng Nhất lãm chọn icôn Chúa Giêsu bẻ bánh và trao Mình – Máu của Người cho các môn đệ, đang khi trao cho họ trọng trách này: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19). Còn Tin Mừng Gioan trình bày cho chúng ta icôn Đức Giêsu lấy khăn thắt lưng, rửa chân cho các môn đệ, và sau đó Người căn dặn họ: “anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã để lại cho anh em một gương mẫu, ngõ hầu anh em cũng làm như Thầy” (Ga 13, 14 – 15).
Trong cảm thức của Giáo hội, nhờ bức icôn rửa chân cho các môn đệ mà bức icôn Chúa Giêsu phân phát Mình và Máu của Người tìm thấy ý nghĩa đầy đủ. Mệnh lệnh thực thi tình huynh đệ cho chúng ta chìa khóa để hiểu ý nghĩa của bí tích Thánh Thể trong Giáo hội. Phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh diễn tả điều ấy.
Di chúc mà Giáo hội lãnh nhận từ Chúa Giêsu có liên quan đến hai khía cạnh hoặc hai chiều kích của tác vụ cứu độ, được thể hiện trong Giáo hội qua các tác vụ riêng biệt khác nhau. Một mặt, qua chức tư tế thừa tác, được thiết lập bằng một bí tích đặc thù, Giáo hội đảm bảo sự trung thành với ký ức của sự hiến tế của Đức Giêsu, của cái chết và phục sinh của Người, ký ức này được hiện diện nơi Bí Tích Thánh Thể. Mặt khác, chính Thánh Linh khơi dậy nơi các tín hữu  ký ức về Đức Giêsu trong tư cách của người phục vụ, và mệnh lệnh cấp bách của Người: “qua đó mọi người nhận thấy anh em là môn đệ Thầy” (Ga 13, 35).
Vì lý do đó, nhiều đặc sủng đã được gợi lên giữa các tín hữu, ngõ hầu phát triển sự hiệp thông nhờ sự phục vụ huynh đệ. Nhờ vậy ơn cứu độ được mang đến cho người chịu thiệt thòi nhất: để người mù được thấy, người què được đi,  người bị giam được giải thoát, người trẻ được giáo dục, bệnh nhân và người già được chăm sóc… Nhờ vậy tình huynh đệ được thực thi cách cụ thể qua muôn vàn công tác phục vụ, trong đó một số công tác trở thành thiết định và được nhìn nhận như tác vụ của Giáo hội[37].
Đời sống thánh hiến phát sinh trong Giáo hội như là sự đáp trả tiếng Thánh Linh mời gọi hãy trung thành duy trì ký ức về tình yêu của Chúa Kitô, Đấng đã yêu thương những kẻ thuộc về Người cho đến cùng[38]. Lời đáp trả này được diễn tả bằng nhiều hình thức nhưng tựu trung đặt nền tảng trên việc lựa chọn "hiến thân vì lòng yêu mến Chúa Giêsu, và trong Người, yêu mến hết mọi thành viên của gia đình nhân loại"[39].
Ơn gọi và căn tính của các Tu huynh mặc lấy ý nghĩa trong động lực này, động lực vừa bao hàm vừa bổ sung những tác vụ khác nhau, nhưng đồng thời cũng vừa đòi hỏi và thúc đẩy những dấu hiệu mang tính ngôn sứ.

I. MẦU NHIỆM:
TÌNH HUYNH ĐỆ, MÓN QUÀ CHÚNG TA LÃNH NHẬN
Chứng tá và trung gian: “Chúng tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa”
13. Nền tảng và nguồn gốc ơn gọi Tu huynh đến từ đâu, nếu không phải là cảm nghiệm về tình yêu Thiên Chúa? “Chúng tôi đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng tôi, và chúng tôi đã tin vào tình yêu đó” (1Ga 4, 16). Đó cũng là nguồn mạch của mọi ơn gọi Kitô hữu. “Khởi nguyên của người Kitô hữu không phải là một quyết định đạo đức hay một lý tưởng cao cả, nhưng là gặp gỡ với một sự kiện, một Nhân vật mang lại một chân trời mới cho cuộc đời, và từ đó, mang lại một quyết định mới”[40].
Sự lựa chọn quyết liệt mà Cựu ước đã đề xuất cho dân Israel và cho mỗi phần tử được lồng trong bối cảnh của cuộc gặp gỡ giữa người tín hữu với Thiên Chúa, Thiên Chúa đến gặp Dân của Người và thiết lập giao ước. Từ đó nảy sinh một sự thánh hiến toàn thể cuộc sống: “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi với tất cả trái tim, tất cả linh hồn và tất cả sức lực” (Đnl 6,4-5). Đức Giêsu tái khẳng định đòi hỏi ấy, nhưng kết hợp với một đòi hỏi khác: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình ngươi” (Lv 19,18). Kể từ đó, cả hai lệnh truyền được kết hợp thành một, không thể tách rời nhau (x. Mc 12, 29 – 31). “Và bởi vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước (x. 1 Ga 4, 10), cho nên giờ đây tình yêu không chỉ còn là ‘lệnh truyền’, nhưng là đáp trả món quà tình yêu mà Chúa đến gặp gỡ chúng ta”[41].
Ơn gọi làm người anh em không chỉ nhằm đón nhận tình yêu Thiên Chúa, nhưng còn trở thành chứng tá và trung gian của món quà đó và của dự án hiệp thông mà Thiên Chúa ban cho nhân loại, dựa trên sự hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi. Dự án này, tức là Mầu nhiệm được mạc khải cho chúng ta trong Đức Kitô, nhằm thiết lập tương quan chiều ngang giữa Thiên Chúa và nhân loại, và giữa lòng nhân loại, chính nơi mà Thiên Chúa muốn ngự trị.
Do đó các mối tương quan nghĩa tử đồng thời cũng biến thành tương quan huynh đệ. Vì lý do đó, gọi là “người anh em” cũng tương tự như gọi là “trung gian của tình yêu Thiên Chúa”, Đấng đã “yêu thế gian, đến nỗi đã tặng ban Người Con Duy Nhất ngõ hầu những ai tin vào Người sẽ được hạnh phúc muôn đời” (Ga 3, 16).
Là “người anh em” cũng là trung gian của tình yêu của Chúa Con, Đấng Trung Gian đích thực, Người “yêu họ đến cùng” (Ga 13,1) và dạy chúng ta yêu nhau như Người đã yêu (Ga 13, 34). Người anh em không được trốn tránh khỏi thế gian này mà Thiên Chúa đã quá yêu thương; trái lại, người anh em được thúc đẩy đi gặp gỡ và yêu mến nó. Khi chiêm ngưỡng công trình cứu độ của Thiên Chúa, người anh em khám phá chính mình là công cụ Thiên Chúa muốn dùng để làm hiển hiện giao ước, tình yêu và lòng ưu ái của Thiên Chúa dành cho những người bé mọn nhất.
Người anh em nhận thức rằng vạn vật đều tràn ngập sự hiện diện âu yếm của Thiên Chúa, cách riêng nhận thức rằng tất cả những gì liên quan đến con người đều nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Từ nhận thức đó nảy sinh nơi Tu huynh và cộng đoàn các Tu huynh sự cam kết phục vụ tận tụy và chuyên nghiệp trong tất cả mọi lãnh vực, kể cả những lãnh vực thoạt tiên xem ra là phàm tục.
Được thánh hiến bởi Thánh Linh
14. Không có chi lớn hơn sự thánh hiến của bí tích Thánh tẩy. Bí tích Thánh tẩy “tái sinh chúng ta vào đời sống làm con cái Chúa; kết hiệp chúng ta với Chúa Kitô và Thân thể của Người là Giáo hội; xức dầu chúng ta trong Thánh Linh để biến đổi chúng ta trở nên đền thờ thiêng liêng”[42]. Toàn thể cuộc đời người Kitô hữu phải là một tiến trình hội nhập vào kế hoạch hiệp thông được biểu thị trong bí tích Thánh tẩy, bằng cách thực thi những cam kết của bí tích tùy theo ơn gọi lãnh nhận từ Thiên Chúa.
Lời tuyên bố vừa rồi có nguy cơ sẽ bị không được hiểu đúng đắn nếu không được đặt ở trong khung cảnh rộng lớn của lịch sử cứu độ, trong đó mỗi người Kitô hữu nhận được sự sống, trong đó, qua bí tích Thánh tẩy, họ tìm thấy vị trí độc đáo của riêng mình. Câu chuyện này cho biết Thiên Chúa Tam vị đã muốn kéo dài mối hiệp thông của ngài trong sứ vụ cứu rỗi nhân loại như thế nào, đã tìm nhiều cách thức như thế nào để thiết lập giao ước, và đã dấn thân cho đến cùng trong mầu nhiệm nhập thể của Chúa Con. Lịch sử cứu độ này tiếp tục nhờ Thánh Linh, Đấng đã quy tụ Giáo hội, và xây dựng Giáo hội bằng các ân ban ngõ hầu, nhờ Giáo Hội, Ngài tiếp tục công trình cứu độ nhân loại.
Tất cả chúng ta đều tham dự vào kế hoạch cứu độ vĩ đại này, bởi vì “Thiên Chúa trong Đức Kitô đã kêu gọi đích danh từng người chúng ta”[43]. Mỗi người tham dự tích cực vào kế hoạch ấy, và ảnh hưởng của họ trên người khác thật là quyết liệt. Mỗi người, xét như là thành viên Giáo hội, “được ủy thác một công tác độc đáo, không ai có thể thay thế, để thi hành nhằm mưu ích cho mọi người”[44]. Mỗi người, nhờ sự xức dầu trong bí tích Thánh tẩy và Thêm Sức, có thể nhắc lại lời của Đức Giêsu: “Thần khí Chúa ngự trên tôi;  Ngài đã xức dầu thánh hiến tôi và sai tôi mang Tin mừng cho người nghèo khó, công bố sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được thấy; giải phóng người bị áp bức và công bố năm hồng ân của Đức Chúa” (Lc 4, 18 – 19). Do đó, “người lãnh bí tích Thánh tẩy tham gia vào chính sứ vụ của Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên sai và Cứu Thế”[45].
Cam kết công khai: làm cho khuôn mặt của Anh Giêsu tỏa sáng hôm nay
15. Cuộc thánh hiến tu sĩ được lồng trong lịch sử ấy của mỗi cá nhân, bắt đầu bằng bí tích Thánh tẩy, và tìm thấy ý nghĩa đầy đủ hơn. Sự thánh hiến tu sĩ  “đào sâu sự thánh hiến của bí tích Thánh tẩy một cách đặc biệt và phong phú hơn” , bởi vì nó diễn tả một ơn gọi hàm ngụ “một ân huệ đặc biệt của Thánh Linh”[46]. Ân huệ này được cảm nhận như một sự thôi thúc muốn công bố bằng chính cuộc đời của mình trước mặt cộng đồng Giáo hội và trước mặt thế giới, điều mà Đức Giêsu loan báo ở hội đường Nazareth: “Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh này mà quý vị đã nghe” (Lc 4, 21). Sự thôi thúc này, đặc trưng của đời sống ngôn sứ, được kèm theo một lời mời gọi chân thành  - được cảm nhận từ nội tâm - hãy bày tỏ thế giới mới mà Đức Giêsu đã mặc khải cũng như sự phong phú của giao ước Người thiết lập với Giáo hội vượt lên trên tình máu mủ, bằng đời sống độc thân tự nguyện được chấp nhận bằng tình yêu và sống trong cộng đoàn huynh đệ.
Mỗi cuộc thánh hiến tu sĩ đều bộc lộ cho các tín hữu thấy rằng mầu nhiệm của Chúa Kitô Cứu Thế được ứng nghiệm hôm nay, trong thế giới này và qua Giáo hội hôm nay. Ở mọi thời và mọi nơi, các người thánh hiến chiếu tỏa dung mạo Đức Giêsu cho thời đại của họ; chính cuộc sống của họ nói lên mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đi vào lịch sử nhân loại. Tính hữu hình này được tỏ lộ qua cách thức hiện diện của đặc sủng của mỗi gia đình tu trì, ở đây và bây giờ. Vì thế, những người thánh hiến cần phải thường xuyên tự hỏi: làm thế nào đề làm chứng cho Chúa Giêsu hôm nay? Chúng ta phải dùng cách thức hiện diện nào để con người hôm nay có thể thấy, cảm nhận được Chúa Giêsu?
Đời sống thánh hiến được mời gọi trở nên “ký ức sống động về cách thức sinh sống và hành động của Đức Giêsu như là Lời Nhập thể trong tương quan với Cha và trong tương quan với anh em”[47]. Đặc biệt các tu huynh, cũng như các nữ tu, làm hiển hiện trong Giáo hội khuôn mặt của anh Giêsu, “trưởng tử của một đàn em” (Rm 8, 29), người kiến tạo một tình huynh đệ mới bằng giáo huấn và đời sống của mình.
Thi hành chức tư tế của bí tích Thánh tẩy
16. Công Đồng Vaticanô II đã nêu bật sự phong phú của bí tích Thánh tẩy và sự cao quý của chức tư tế phổ quát của những người đã lãnh bí tích Thánh tẩy. Công đồng đã làm sáng tỏ mối liên hệ hỗ tương giữa chức tư tế phổ quát và chức tư tế thừa tác, và nhắc lại rằng chức tư tế thừa tác hướng đến chức tư tế phổ quát của tất cả các tín hữu[48].
Các Tu huynh, khi sống điều kiện giáo dân nhờ một sự thánh hiến đặc biệt, làm chứng cho giá trị của chức tư tế phổ quát đã nhận được trong Bí tích Thánh tẩy và Thêm sức: “[Người] đã làm cho chúng ta trở thành một vương quốc tư tế để phụng sự Thiên Chúa và Cha của Người” (Kh 1, 5-6). Sự thánh hiến tu trì tự nó đã làm nên việc thi hành cách viên mãn chức tư tế phổ quát của tất cả mọi tín hữu. Hành vi cốt yếu của chức vụ này là dâng hy lễ tinh thần mà các Kitô hữu dâng thân mình cho Thiên Chúa “như của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Chúa” (Rm 12,1), để đáp lại tình yêu của Ngài và để tôn vinh Ngài.
Tu huynh sống hiệp thông với Chúa Cha, nguồn mạch sự sống, nhờ việc dâng hiến toàn thể cuộc sống của mình cho Ngài, trong thái độ ngợi ca và thờ phượng. Khi được đâm rễ sâu  nơi Thiên Chúa, Tu huynh thánh hiến toàn thể vạn vật, qua việc nhìn nhận sự hiện diện của Thiên Chúa và tác động của Thánh Linh trong các loài thụ tạo, trong các nền văn hóa và trong các biến cố. Chính vì nhận ra sự hiện diện năng động này, họ có thể loan báo nó cho người đương thời. Khả năng này là hoa trái của tiến trình mở lòng liên lỉ hướng lên Thiên Chúa qua sự thánh hiến của mình, nhờ đó Tu huynh sống chức tư tế phổ quát từng ngày.
Giống như anh em trong hết mọi sự
17. Sự thánh hiến tu trì giúp Tu huynh tham dự cách ý thức hơn chiều kích huynh đệ nằm trong chức tư tế của Đức Kitô. Người “đã trở nên giống anh em mình mọi sự, để trở thành thượng tế nhân từ và trung tín” (Hr 2, 17-18). Để mặc cho chúng ta địa vị làm con Thiên Chúa, trước hết Đức Giêsu Kitô đã trở nên người anh, chia sẻ với chúng ta thịt và máu và trở thành liên đới với những đau khổ của anh chị em mình. ‘Anh em’ là danh xưng mà Chúa Giêsu dùng để  gọi các môn đệ sau khi Phục Sinh, và bà Maria Madalena được ủy thác truyền thông: “Hãy đến với các anh em của Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha của Thầy cũng là Cha của anh em…” (Ga 20, 17).
Trong cộng đoàn huynh đệ tiếp đón mình, Tu huynh trải nghiệm mầu nhiệm Đức Giêsu Phục Sinh như một điều loan báo và sai đi. Cộng đoàn này là nơi Thiên Chúa ngự[49], nơi Đức Giêsu hiện diện giữa anh em (x. Mt 18, 20) để quy tụ họ nên một, trao ban Thánh Thần cho họ (x. Ga 20, 22) và sai họ đi, như Mađalena, loan báo rằng trong Đức Kitô tất cả chúng ta là anh chị em với nhau, con cái cùng một Cha. Dựa trên kinh nghiệm này, các Tu huynh thi hành chức tư tế phổ quát qua tình huynh đệ, nhờ đó họ trở thành cầu nối liên kết Thiên Chúa với anh em mình, họ được Thánh Linh xức dầu và sai đi mang Tin Mừng tình yêu và lòng thương xót của Chúa đến tất cả mọi người, đặc biệt những người anh em nhỏ bé nhất, những người yếu kém nhất trong cộng đoàn nhân loại.
Tu huynh và người giáo dân sống ngoài đời thực hiện chức tư tế phổ quát theo thể thức khác nhau. Cả hai đều diễn tả sự phong phú đa dạng của chức vụ tư tế này, bao hàm sự gần gũi Thiên Chúa và gần gũi thế giới, thuộc về Giáo hội như là tôi tớ của Chúa và thuộc về Giáo hội được xây dựng trong thế giới, nhưng cuối cùng nhắm đến Thiên Chúa. Người giáo dân sống ngoài đời nhắc nhớ Tu huynh rằng họ không được phép thờ ơ với việc cứu độ nhân loại, cũng như sự tiến bộ của thế giới là điều mà Thiên Chúa mong muốn và quy hướng về Đức Kitô. Về phần mình, Tu huynh nhắc nhở người giáo dân sống ngoài đời rằng sự tiến bộ của thế giới không phải là mục đích chung quyết, và việc xây dựng thành trì trần gian luôn phải đặt nền tảng trong Chúa và hướng đến Ngài, “nếu không thì việc xây dựng này sẽ trở thành uổng công.”[50]
Tuyên hứa: một sự thánh hiến duy nhất nhưng được diễn tả qua những lời khấn khác biệt
18. Việc dâng hiến bản thân mang tính cách công khai và được Giáo hội chấp nhận qua lời tuyên khấn. Việc thánh hiến đi trước các lời khấn, bao gồm chúng và đi xa hơn chúng. Ý nghĩa của lời khẳng định này sẽ được rõ ràng nhờ những điều sắp được giải thích dưới đây.
Đề đáp lại hành động yêu thương của Thiên Chúa đã thánh hiến mình, người tu sĩ hiến dâng đời sống cho Chúa qua việc tuyên giữ các lời khấn: trước hết, hiến dâng cuộc đời của mình, để biến nó thành một dấu chỉ của sự ưu việt của Thiên Chúa, của một đời sống dành hoàn toàn cho Chúa, của giao ước, của tình yêu Thiên Chúa dành cho Dân Người. Đó là một cam kết tình yêu như một định hướng nền tảng cho đời sống. Đó là mối ràng buộc huynh đệ để đáp lại món quà làm nghĩa tử nhận được từ Chúa Cha trong Con của ngài là Đức Giêsu.
Việc dâng hiến này bao trùm toàn bộ cuộc sống, đòi buộc người tu sĩ sống cuộc hy tế bản thân mỗi ngày, mỗi lúc, mỗi nơi, trong mọi chiều kích của cuộc đời. Các lời khấn mang ý nghĩa trong toàn bộ động lực vừa kể; các lời khấn diễn tả sự toàn diện của cuộc đời dưới những sắc thái khác nhau.
Trong lịch sử đời sống thánh hiến, việc tuyên giữ công khai các lời khấn được phát biểu qua nhiều cách thức khác nhau, nhưng kể từ thế kỷ XIII xu hướng chung là diễn tả qua các lời khuyên tin mừng, làm nổi bật ý định họa trót cuộc đời theo như Đức Kitô[51] trong ba chiều kích căn bản: khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục.
Các Tu huynh diễn tả sự dâng hiến mình qua việc tuyên giữ các lời khuyên tin mừng, đồng thời họ biểu lộ sự kết hợp và đồng hóa với Đức Kitô, khởi đi từ cốt lõi của Tin Mừng là lệnh truyền mến Chúa yêu người. Họ sống khiết tịnh như là một trải nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa, từ đó họ được thúc đẩy yêu thương mọi người và cổ võ sự hiệp thông qua chứng tá của tình huynh đệ.[52] Họ sống khó nghèo như là kẻ đã nhận được từ Đức Giêsu, viên ngọc quý của Vương Quốc Thiên Chúa; vì thế, họ sẵn sàng xây dựng tình huynh đệ và phục vụ, trong đức ái, tất cả mọi người, đặc biệt những người nghèo nhất. Sự khó nghèo này giúp cho các Tu huynh mở rộng lòng cho nhau và nhận thấy họ cần đến nhau. Đặc biệt, họ sống tuân phục như chung nhau tìm kiếm  ý muốn của Chúa Cha, trong tình huynh đệ được linh hoạt bởi Thần Khí, cam kết đồng lòng đồng ý với nhau cùng tiến bước[53], vui lòng chấp nhận những trung gian được chỉ định bởi  Luật của Hội dòng[54].
Vì thế các lời khấn diễn tả sự cam kết của Tu sĩ sống mầu nhiệm Thiên Chúa, mà họ cùng với anh em mình được đặt làm dấu chỉ và ngôn sứ cho cộng đoàn Giáo hội và cho thế giới[55]: mầu nhiệm tình yêu, giao ước và tình huynh đệ.
Một linh đạo nhập thể và hiệp nhất
19. Chiều kích ngôn sứ là phần thiết yếu của căn tính người thánh hiến, và nó được tăng trưởng, trước hết, nhờ việc lắng nghe. Người Tôi tớ Giavê đã trải nghiệm điều đó: “Mỗi buổi sáng, Người đánh thức tai tôi để tôi lắng nghe như người môn đệ” (Is 50,4). Chỉ duy sự trải nghiệm được đâm rễ trong Thiên Chúa và thấm nhuần Lời Người mới có thể đảm bảo sống được chiều kích này trong hoạt động tông đồ, bởi vì “tính ngôn sứ chân chính phát sinh từ Thiên Chúa, từ tình thân với Người, từ việc chú ý lắng nghe Lời  của Người trong các hoàn cảnh lịch sử khác nhau”[56]. Từ sự chuyên cần chiêm niệm, giúp cho chúng ta biết nhìn mọi vật và mọi người theo cái nhìn của Chúa, mà ta có khả năng nhận ra dấu chỉ thời đại cách sâu xa, ngõ hầu nắm bắt tiếng gọi của Chúa trong đó và hoạt động hợp với kế hoạch của Ngài[57].
Linh đạo của Tu huynh phải dẫn họ tới việc sống lại cảm nghiệm Kitô giáo của thuở ban đầu, được Tin Mừng Mát-thêu diễn tả cách biểu tượng như sau: “Và kìa, bức màn trong đền thờ bị xé ra làm đôi” (Mt 27,51). Hình ảnh này gợi cho chúng ta thấy rằng Đức Giêsu, qua cái chết của Người, “đã khai mở cho chúng ta một con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác của Người” (Hr 10,20) cho chúng ta có thể gặp được Chúa Cha. Thiên Chúa không chỉ còn nhất thiết hiện diện ở một “nơi thánh thiêng” nào, bởi vì từ nay trở đi, cần phải “thờ phượng Chúa trong tinh thần và sự thật” (Ga 4,24).
Các Tu huynh được mời gọi sống linh đạo nhập thể và hiệp nhất này để gặp gỡ Thiên Chúa, không chỉ trong việc lắng nghe Lời, trong các bí tích, trong phụng vụ hay cầu nguyện, nhưng còn trong cuộc sống mỗi ngày: trong những công tác hàng ngày, trong lịch sử thế giới, trong những dự án mong manh của nhân loại, trong thực tại vật chất, trong lao động và kỹ thuật. Linh đạo này dựa trên cái nhìn sâu sắc về sự thống nhất trong kế hoạch của Thiên Chúa: đó chính là Thiên Chúa, Thân phụ của Đức Giêsu Kitô, Đấng tạo dựng và cứu độ thế giới. Do đó cần đưa tất cả đời sống chúng ta vào việc cầu nguyện, để cho sự cầu nguyện vẫn kéo dài trong đời sống.
Các Tu huynh liên kết việc cầu nguyện chính thức của Giáo hội với chiều kích phục vụ là đặc tính của đời sống thánh hiến. Họ vun trồng thái độ chiêm niệm, có khả năng để cho sự hiện diện của Chúa Giêsu được chiếu tỏa trong đời của họ, trong cuộc sống mỗi ngày, trong những công tác và bổn phận của mình, để có thể thốt lên với Người rằng: “Lạy Cha là Chủ tể trởi đất, con tạ ơn Cha, vì Cha đã giấu ẩn những điều này khỏi những bậc thông thái bác học, và đã mạc khải cho những kẻ bé mọn…” (Lc 10, 21)
Một linh đạo của Lời để sống mầu nhiệm “ở trong nhà” với Mẹ Maria
20. Ba quyển Tin Mừng nhất lãm tường thuật lại một quang cảnh trong đó Đức Giêsu phân biệt cách rõ ràng giữa “mẹ và các anh em” theo thể xác và “mẹ và các anh em là những người lắng nghe và thực hành Lời Chúa” (Lc 8, 21). Trong câu chuyện, Đức Giêsu rõ ràng ủng hộ nhóm thứ hai.  Nhóm thứ nhất ở ngoài nhà, họ gọi Người từ bên ngoài; nhóm thứ hai quây quần bên Ngài, ở trong nhà, lắng nghe Người. Trong hàng ngũ mới của mối tương quan gia đình do Đức Giêsu thiết lập, Đức Maria tìm được vẻ cao siêu và ý nghĩa sâu sắc đối với cộng đoàn Kitô hữu. Thánh sử Luca nói về Mẹ rằng “Người ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng và liên tục suy đi nghĩ lại” (Lc 2, 19.51). Đức Maria đón nhận và sống tròn đầy tình yêu của Thiên Chúa đến độ để cho tình yêu ấy trở thành thể xác của Mẹ. Mẹ là mối dây hiệp nhất trong cộng đoàn non trẻ của những người anh em, Mẹ đồng hành với họ và hiện diện như là người mẹ và người chị; và Mẹ lãnh nhận Thánh Linh trong huynh đoàn cầu nguyện này (x. Cv 1,14; 2, 1-4).
Giống như Đức Maria, Tu huynh được mời gọi sống sâu xa linh đạo của Lời, để trải nghiệm ở trong nhà quanh Chúa Giêsu, lắng nghe sứ điệp của Người, và sống kề bên Người mầu nhiệm của Chúa Cha đã nhận chúng ta làm con trong Người Con và làm anh em với nhau và với Chúa Giêsu.
Giống như Đức Maria, Tu huynh được mời gọi để cho Thánh Linh đổ đầy, lắng nghe trong mình tiếng Thánh Linh kêu lên tận đáy lòng: Cha ơi! (Gl 4,6; Rm 8,15). Đây là cảm nghiệm duy nhất có sức nâng đỡ ơn gọi của mình.
Nhờ Mẹ Maria trợ giúp và gợi ý, Tu huynh sống trong cộng đoàn của mình kinh nghiệm về Chúa Cha Đấng đã quy tụ họ đến bàn tiệc Lời, bàn tiệc Thánh Thể và bàn tiệc sự sống. Cùng với Mẹ Maria, Tu huynh ca khen Thiên Chúa cao cả và loan báo ơn cứu độ của Ngài. Vì thế họ cảm thấy được thúc đẩy để tìm kiếm và đưa vào ngồi trong Vương Quốc những người không có gì để ăn, những người bị xã hội loại trừ và những người bị sự tiến bộ đẩy lùi. Đây là đời sống Thánh Thể mà các Tu huynh được mời gọi cử hành qua chức tư tế phổ quát, được xác nhận bởi lời tuyên khấn.

ĐHY João Braz, Bộ trưởng
ĐTGM José Rodríguez Carballo, OFM, Tổng thư ký
Chuyển ngữ : Ts Giuse Mai Văn Tuyến, OP
Hiệu đính : Ts Giuse Phan Tấn Thành, OP
 




[1] Trong văn kiện này, chúng tôi ưu tiên sử dụng thuật ngữ được đề nghị trong Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến (ĐSTH) số 60: “Các Tu huynh” hoặc đơn giản là “Tu huynh”. Khi có thể được, chúng tôi sẽ dùng thuật ngữ ở số nhiều, bởi vì một Tu huynh chỉ có thể hiện diện cùng với các Tu huynh khác, trong tình huynh đệ, chứ không thể đơn độc. Là Tu huynh luôn luôn hàm ý một mối tương quan, và đây là điều chúng tôi muốn nhấn mạnh.
[2] Thánh Gioan Phaolo II, Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng ĐSTH (25.3.1996), số 60.
[3] Từ này (Dòng các tu sĩ “anh em”: Instituts religieux de frères, thay vì tu sĩ “giáo dân”) là danh xưng được Thượng Hội Đồng về Đời sống thánh hiến đề nghị (Tháng 10 năm 1994) và được du nhập vào Tông Huấn ĐSTH số 60.
[4] Thánh Gioan Phaolo II, Tông huấn hậu-thượng-hội-đồng “Người Kitô hữu giáo dân” Christifideles Laici (ChL) (30.10.1998) số 19: "Đây là ý tưởng trọng tâm mà Giáo Hội đã tự giới thiệu trong Công Đồng Vaticanô II, (...) Giáo-hội-học hiệp thông là một ý tưởng trọng tâm và nền tảng trong các tài liệu Công Đồng".
[5] X.  Christifideles Laici 8; 19; 32.
[6] ChL 8; ĐSTH 41.
[7] ChL 19.
[8] X.  ChL 18; 19.
[9] ĐSTH 3.
[10] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội (GH) Lumen Gentium, số 9.
[11] ĐSTH 72.
[12] X.  ChL 55; ĐSTH 31
[13] X.  ChL 16.
[14] X.  Đức Phaolô VI, Tông huấn về Loan báo Tin mừng Evangelii nuntiandi (08.9.1975)
[15] X.  ChL 55.
[16] X.  ĐSTH 30.
[17] ĐSTH 84.
[18] ĐSTH 41; 46.
[19] GH 13.
[20] ĐSTH 33; x. 39
[21] x. GH 44.
[22] ĐSTH 84. x.  Ibidem 15; 25; 26; 27; 42; 51; 80; 92; 105.
[23] ĐSTH 39.
[24] x.  ĐSTH 84-94.
[25] Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư Novo Millennio Ineunte (06.01.2001), số 43
[26] X.  ĐSTH 46, 51; Novo Millennio Ineunte 43.
[27] x.  ĐSTH 33.
[28] x.  ĐSTH 16; 31.
[29] ĐSTH 55.
[30] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụ về Hội thánh trong thế giới ngày nay (MV) 1.
[31] MV 3.
[32] X.  CIVCSVA, Huấn thị Phát xuất lại từ Đức Kitô (19.05.2002), 31.
[33] X.  ChL 24.
[34] ĐGH Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng (NVTM) (24.11.2013), 99
[35] ĐSTH 60.
[36] ĐSTH 60. Trích bài phát biểu buổi tiếp kiến chung Thánh Gioan Phaolô II, 22.02.1995
[37] X.  VC 60, NMI 46.
[38] X.  VC 75.
[39] VC 3.
[40] Đức Biển Đức 16, Thông điệp Deus Caritas Est (25.12.2005), 1.
[41] Đức Biển Đức 16, ibid 1.
[42] ChL 10.
[43] ChL 28.
[44] Ibid.
[45] ChL 13.
[46] VC 30.
[47] VC 22.
[48] X.  ChL 22; cf LG 10.
[49] X.  VC 42.
[50] LG 46.
[51] X.  VC 16.
[52] X.  VC 46; 51.
[53] X.  VC 92.
[54] X.  CIVCSVA, Huấn thị Quyền bính và vâng phục, 9.
[55] X.  VC 15.
[56] VC 84.
[57] X.  VC 73.
Read more…